Trong lộ trình hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050 của Chính phủ Việt Nam, việc quản lý phát thải khí nhà kính đã trở thành một yêu cầu pháp lý bắt buộc và cấp thiết. Đối với các doanh nghiệp, việc hiểu rõ quy mô và đối tượng nào phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính cũng như lập báo cáo carbon doanh nghiệp không chỉ giúp tuân thủ đúng quy định pháp luật mà còn là bước đệm quan trọng để tham gia vào thị trường tín chỉ carbon đầy tiềm năng. Đặc biệt, với sự cập nhật của các văn bản pháp luật mới nhất tính đến năm 2026, các tiêu chuẩn này đã được siết chặt và chi tiết hóa hơn bao giờ hết.
Bài viết dưới đây, Law Plus sẽ cập nhật và cụ thể hoá những thông tin cần thiết để các doanh nghiệp cùng nắm bắt, và đáp ứng yêu cầu của Nghị định 06/2022/NĐ-CP.
1. Căn cứ pháp lý hiện hành về kiểm kê khí nhà kính
Hiện nay, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại Việt Nam dựa trên nền tảng của Luật Bảo vệ môi trường 2020. Để hướng dẫn chi tiết, Chính phủ đã ban hành Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý, kể từ ngày 01/08/2025, Nghị định 119/2025/NĐ-CP đã chính thức có hiệu lực, sửa đổi và bổ sung nhiều điều khoản quan trọng của Nghị định 06/2022/NĐ-CP nhằm hoàn thiện Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon. Việc áp dụng song hành và cập nhật các điểm mới tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP là bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân có hoạt động phát thải trên lãnh thổ Việt Nam.
2. Xác định quy mô doanh nghiệp bắt buộc kiểm kê khí nhà kính
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 06/2022/NĐ-CP, các cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê được xác định dựa trên các tiêu chí định lượng cụ thể. Doanh nghiệp cần đối chiếu số liệu vận hành thực tế của mình, với các ngưỡng được quy định tài khoản 1 Điều 6 Nghị định này, cụ thể như sau:
– Cơ sở thuộc lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất và lâm nghiệp, quản lý chất thải, các quá trình công nghiệp: Có tổng lượng phát thải khí nhà kính hằng năm từ 3.000 tấn CO2 tương đương trở lên.
– Cơ sở tiêu thụ năng lượng trọng điểm: Bao gồm các cơ sở sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, đơn vị vận tải có tổng tiêu thụ năng lượng hằng năm từ 1.000 tấn dầu tương đương (TOE) trở lên; hoặc các tòa nhà thương mại có tổng tiêu thụ năng lượng hằng năm từ 1.000 TOE trở lên.
– Cơ sở xử lý chất thải rắn: Các nhà máy, cơ sở có công suất thiết kế hằng năm từ 65.000 tấn trở lên.
Danh mục cụ thể các cơ sở này được Thủ tướng Chính phủ ban hành và cập nhật 02 năm một lần. Doanh nghiệp cần chủ động tra cứu tên đơn vị mình trong danh mục mới nhất để thực hiện nghĩa vụ pháp lý. Nếu thuộc đối tượng bắt buộc kiểm kê khí nhà kính thì doanh nghiệp có trách nhiệm gửi kết quả kiểm kê định kỳ về Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 01/12 của kỳ báo cáo để tổng hợp.
3. Các lĩnh vực trọng điểm phải lập báo cáo carbon doanh nghiệp
Không chỉ dựa vào ngưỡng phát thải, pháp luật còn phân loại theo tính chất lĩnh vực để xác định nghĩa vụ báo cáo. Theo khoản 3 Điều 1 Nghị định 119/2025/NĐ-CP (sửa đổi Điều 7 Nghị định 06/2022/NĐ-CP), mục tiêu giảm nhẹ phát thải được tập trung vào các lĩnh vực then chốt. Nếu doanh nghiệp đạt quy mô quy định và hoạt động trong các lĩnh vực sau đây bắt buộc phải thực hiện giảm nhẹ phát thải và lập báo cáo carbon chuyên biệt:
– Lĩnh vực Năng lượng: Sản xuất năng lượng, tiêu thụ năng lượng trong các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại và dân dụng.
– Lĩnh vực Giao thông vận tải: Vận tải hành khách và hàng hóa bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không.
– Lĩnh vực Xây dựng: Sản xuất vật liệu xây dựng và các dự án thi công có phát thải lớn.
– Lĩnh vực Các quá trình công nghiệp: Sản xuất hóa chất, luyện kim và các sản phẩm khoáng phi kim loại.
– Lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Sử dụng đất: Chăn nuôi, trồng trọt và các hoạt động thay đổi mục đích sử dụng đất.
– Lĩnh vực Quản lý chất thải: Xử lý chất thải rắn và nước thải.
4. Quy định về thời hạn và quy trình nộp báo cáo carbon 2026-2027
Một trong những điểm mới quan trọng nhất mà doanh nghiệp cần lưu ý trong năm 2026 là lộ trình nộp báo cáo. Theo khoản 6 Điều 1 Nghị định 119/2025/NĐ-CP sửa đổi Điều 10 của Nghị định 06/2022/NĐ-CP, quy trình báo cáo được quy định như sau:
Công tác chuẩn bị năm 2026: Các cơ sở thuộc đối tượng bắt buộc phải hoàn thiện việc đo đạc, thu thập số liệu phát thải và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phát thải trực tuyến trong suốt năm 2026.
Thời hạn nộp báo cáo: Doanh nghiệp xây dựng báo cáo giảm nhẹ phát thải khí nhà kính hằng năm của năm trước kỳ báo cáo (theo Mẫu số 02) và gửi về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan trước ngày 31/3/2027.
Như vậy, các doanh nghiệp thuộc đối tượng bắt buộc phải hoàn thiện công tác đo đạc, thu thập dữ liệu trong suốt năm 2026 để sẵn sàng cho kỳ báo cáo chính thức vào đầu năm 2027. Việc thẩm định báo cáo này sẽ được thực hiện bởi các đơn vị có chức năng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Kết quả thẩm định là căn cứ để cơ quan nhà nước quyết định việc phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho doanh nghiệp trong kỳ kế tiếp.
5. Hệ thống đăng ký quốc gia và trách nhiệm của doanh nghiệp
Với sự ra đời của Nghị định 119/2025/NĐ-CP, Chính phủ đã thiết lập “Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon”. Theo điểm e khoản 2 Điều 1 Nghị định 119/2025/NĐ-CP, đây là hệ thống hạ tầng kỹ thuật dùng để quản lý thông tin sở hữu, xử lý các hoạt động vay mượn, nộp trả, chuyển giao hạn ngạch.
Theo quy định tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP doanh nghiệp thuộc đối tượng bắt buộc có trách nhiệm:
– Cung cấp thông tin, số liệu hoạt động phục vụ đo đạc, báo cáo, thẩm định theo yêu cầu của cơ quan quản lý (theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 9 Nghị định 06/2022/NĐ-CP);
– Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về đo đạc (Monitoring), báo cáo (Reporting) và thẩm định (Verification) – quy trình MRV (theo khoản 3 Điều 1 Nghị định 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định 06/2022/NĐ-CP).
– Doanh nghiệp phải nộp trả số lượng hạn ngạch phát thải hoặc tín chỉ các-bon tương ứng với lượng khí nhà kính đã phát thải trong kỳ báo cáo.
6. Kết luận
Việc thực hiện kiểm kê khí nhà kính và lập báo cáo carbon doanh nghiệp theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP (đã được sửa đổi bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP) không còn là công việc tự nguyện mà là nghĩa vụ pháp lý gắn liền với quyền lợi kinh tế của doanh nghiệp.
Những đơn vị có quy mô phát thải từ 3.000 tấn CO2 tương đương hoặc tiêu thụ 1.000 TOE năng lượng trở lên cần nhanh chóng kiện toàn bộ máy quản lý môi trường, xây dựng hệ thống dữ liệu chính xác để đáp ứng các kỳ báo cáo sắp tới. Tuân thủ pháp luật về môi trường chính là cách tốt nhất để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững trong kỷ nguyên kinh tế xanh.