Cập nhật quy định

NHỮNG THAY ĐỔI QUAN TRỌNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ CHO DOANH NGHIỆP TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

By LAWPLUS INFO

May 26, 2026

Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức năm 2026, quyền tác giả không còn đơn thuần là một khái niệm pháp lý mà đã trở thành tài sản chiến lược quyết định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc nắm vững các quy định của luật sở hữu trí tuệ là yêu cầu bắt buộc đối với mọi nhà quản trị.

Bài viết dưới đây, LawPlus sẽ rà soát và cập nhật những thay đổi mới về quyền tác giả. Để các chủ thể sẽ cùng được phổ biến và có những chuẩn bị tốt hơn.

1. Hệ thống hóa khung pháp lý quyền tác giả mới nhất năm 2026

Năm 2026 đánh dấu sự ổn định của hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ sau đợt cải cách lớn. Doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý các văn bản đang có hiệu lực thi hành:

– Luật trọng tâm: Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung bởi các Luật năm 2009, 2014, 2019, 2022 và gần nhất là Luật số 131/2025/QH15.

– Nghị định hướng dẫn: Nghị định 17/2023/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 134/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.

– Chế tài hành chính: Nghị định 341/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan với mức phạt tăng mạnh đối với các hành vi xâm phạm trên môi trường Internet.

2. Phân định quyền sở hữu giữa Doanh nghiệp và Nhân viên: Tránh bẫy pháp lý

Một trong những rủi ro lớn nhất của doanh nghiệp là tranh chấp quyền sở hữu đối với các sản phẩm sáng tạo do nhân viên hoặc cộng tác viên thực hiện.

Theo quy định tại Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung) quy định nếu tác phẩm được tạo ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc theo hợp đồng giao việc, doanh nghiệp là chủ sở hữu quyền tài sản (quyền công bố, sao chép, làm tác phẩm phái sinh…), trừ khi có thỏa thuận khác. 

Tuy nhiên, nhân viên vẫn giữ quyền nhân thân không thể chuyển nhượng như quyền đứng tên tác giả. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung) như sau: tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này”.

Điểm mới quan trọng cho doanh nghiệp công nghệ: Theo khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025, đối với chương trình máy tính, tác giả và chủ sở hữu có quyền thỏa thuận bằng văn bản về việc sửa chữa, nâng cấp. Doanh nghiệp cần cụ thể hóa điều khoản này trong hợp đồng lao động để đảm bảo quyền kiểm soát tuyệt đối đối với mã nguồn (source code) và các bản cập nhật phần mềm trong tương lai.

3. Quy trình đăng ký bản quyền tác giả: Bước đệm bảo vệ vững chắc

Mặc dù quyền tác giả phát sinh tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, việc đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả vẫn là tấm khiên pháp lý quan trọng nhất.

Hồ sơ đăng ký theo Điều 50 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung) và bao gồm:

– Tờ khai đăng ký: Sử dụng mẫu mới nhất năm 2026. Tờ khai phải làm bằng tiếng Việt, kê khai đầy đủ thông tin tác giả, chủ sở hữu, tóm tắt nội dung tác phẩm và có chữ ký/điểm chỉ của các bên liên quan.

– Bản sao tác phẩm: Nộp 02 bản sao có đóng dấu giáp lai hoặc xác nhận của doanh nghiệp. Đối với tác phẩm số, có thể nộp dưới dạng tệp tin lưu trữ trong thiết bị nhớ.

– Chứng minh quyền nộp đơn: Hợp đồng lao động, quyết định giao việc hoặc hợp đồng sáng tạo/thuê khoán thiết kế, viết bài. Trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu, phải có văn bản cam đoan về việc tự sáng tạo và không vi phạm pháp luật.

– Văn bản ủy quyền: Nếu doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của các tổ chức tư vấn theo Điều 57 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung). Tài liệu trong hồ sơ nếu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và công chứng/hợp pháp hóa lãnh sự.

4. Bảo vệ quyền tác giả trên môi trường số và Biện pháp công nghệ (TPMs)

Năm 2026, việc thực thi quyền trên không gian mạng được đặt lên hàng đầu. Doanh nghiệp có quyền áp dụng các biện pháp công nghệ để ngăn ngừa hành vi xâm phạm theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung) các biện pháp này bao gồm:

– Sử dụng khóa phần mềm, mã hóa dữ liệu.

– Gắn thông tin quản lý quyền (Watermark, Metadata) để định danh chủ sở hữu.

– Sử dụng các hệ thống ngăn chặn sao chép trái phép.

Pháp luật bảo vệ các biện pháp này bằng chế tài nghiêm khắc. Theo Điều 39 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, hành vi cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ bảo vệ quyền sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân (tổ chức phạt gấp đôi).

5. Quản trị rủi ro thông qua Hợp đồng chuyển nhượng và Li-xăng

Mọi giao dịch liên quan đến quyền tác giả phải được lập thành văn bản để đảm bảo giá trị pháp lý. Theo Điều 46 và Điều 48 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung), hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải bao gồm một số nội dung cốt lõi:

– Phạm vi chuyển nhượng/chuyển giao quyền: Chuyển nhượng toàn bộ hay chỉ cho phép sử dụng (li-xăng) trong một thời gian nhất định.

– Giá và phương thức thanh toán: Cần quy định rõ phí bản quyền (royalty) cố định hay theo doanh thu.

– Trách nhiệm bảo đảm: Bên chuyển nhượng/chuyển giao quyền phải cam đoan tác phẩm không xâm phạm quyền của bất kỳ bên thứ ba nào khác.

6. Kết luận

Trong bối cảnh thực thi pháp luật nghiêm ngặt năm 2026, quyền tác giả không còn là một lựa chọn mà là một yêu cầu bắt buộc trong quản trị doanh nghiệp. Việc lơ là trong khâu xác lập quyền hoặc thiếu chặt chẽ trong các hợp đồng lao động có thể dẫn đến những tranh chấp kéo dài và mức xử phạt hành chính lên đến hàng trăm triệu đồng theo Nghị định 341/2025/NĐ-CP. Để tối ưu hóa lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp cần thực hiện ngay 03 bước sau:

(i) Rà soát hệ thống hợp đồng: Đảm bảo các điều khoản về quyền sở hữu trí tuệ được quy định rõ ràng theo Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ 2025 (sửa đổi, bổ sung). 

(ii) Đăng ký bảo hộ kịp thời: Thực hiện thủ tục đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả để có căn cứ pháp lý cao nhất.

(iii) Ứng dụng công nghệ bảo vệ: Triển khai các biện pháp kỹ thuật TPMs để tự bảo vệ tài sản trên môi trường số theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung).