Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng giấy tờ xuyên biên giới ngày càng gia tăng, việc chứng nhận giấy tờ để sử dụng tại quốc gia khác là yêu cầu quan trọng đối với các thủ tục như thành lập doanh nghiệp, đăng ký kết hôn, du học, lao động và định cư. Từ ngày 11/9/2026, Công ước La Hay ngày 05/10/1961 (Công ước Apostille) chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam. Việc áp dụng cơ chế này mở ra bước ngoặt lớn trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ khâu hợp pháp hóa lãnh sự truyền thống giữa Việt Nam và các quốc gia thành viên.
Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia và mọi loại giấy tờ đều đương nhiên thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước. Vậy Apostille là gì, khác gì với hợp pháp hóa lãnh sự (Legalisation) và cần lưu ý những gì khi thực hiện thủ tục?
Bài viết dưới đây của LawPlus sẽ phân tích chi tiết bản chất pháp lý của Apostille và những quy tắc kỹ thuật quan trọng theo quy định tại Nghị định 293/2026/NĐ-CP và Thông tư 12/2026/TT-BNG.
Table of Contents/Mục lục
1. Apostille là gì? Chứng nhận Apostille có giá trị pháp lý như thế nào?
1.1. Khái niệm Chứng nhận Apostille
Chứng nhận Apostille là chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của quốc gia thành viên Công ước Apostille cấp nhằm xác nhận nguồn gốc của giấy tờ công bao gồm: tính xác thực của chữ ký, chức danh, thẩm quyền của người ký và con dấu hoặc dấu đóng trên giấy tờ công (nếu có).
1.2. Phạm vi xác nhận và Giá trị pháp lý
- Về phạm vi xác nhận: Căn cứ Điều 4 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, chứng nhận Apostille chỉ xác nhận nguồn gốc thể hiện trên giấy tờ công (chữ ký, con dấu, chức danh). Apostille không xác nhận nội dung hay hình thức của giấy tờ công đó.
- Về hiệu lực miễn hợp pháp hóa lãnh sự: Căn cứ khoản 2 Điều 25 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, giấy tờ công của Quốc gia thành viên đã được cấp chứng nhận Apostille hợp lệ sẽ được miễn hợp pháp hóa lãnh sự và được tiếp nhận, sử dụng trực tiếp tại Việt Nam mà không cần thực hiện thêm bất kỳ thủ tục chứng nhận nào khác. Các cơ quan, tổ chức tại Việt Nam không được phép yêu cầu người dân, doanh nghiệp làm thêm thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự đối với giấy tờ đã có Apostille.
- Giá trị của Chứng nhận Apostille điện tử (e-Apostille): Theo khoản 4 Điều 25 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, e-Apostille có giá trị pháp lý tương đương với Apostille bản giấy. Tính xác thực của e-Apostille được đối soát trực tuyến qua Sổ đăng ký điện tử (e-Register) hoặc quét mã QR tích hợp trên chứng nhận.
- Mối quan hệ với thủ tục công chứng/chứng thực: Việc cấp chứng nhận Apostille không thay thế thủ tục công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam khi giấy tờ công đó được sử dụng trong nước. Ngoài ra, giấy tờ công bằng tiếng nước ngoài khi sử dụng tại Việt Nam vẫn bắt buộc phải dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được công chứng/chứng thực theo quy định.
2. Những loại giấy tờ nào được chứng nhận Apostille?
2.1. Các loại giấy tờ công của Việt Nam thuộc phạm vi cấp Apostille
Căn cứ Điều 10 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, các loại giấy tờ công do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của Việt Nam lập, cấp hoặc chứng nhận thuộc phạm vi được cấp chứng nhận Apostille để sử dụng tại Quốc gia thành viên Công ước bao gồm 05 nhóm chính:
- Giấy tờ tố tụng và thi hành án: Bản án, quyết định, văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra; quyết định, biên bản, văn bản của cơ quan quản lý và cơ quan thi hành án dân sự/hình sự; vi bằng do Thừa phát lại, Thừa hành viên lập khi thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật qua các thời kỳ.
- Giấy tờ hành chính: Giấy tờ về hộ tịch (giấy khai sinh, kết hôn, khai tử…), quốc tịch, nuôi con nuôi; phiếu lý lịch tư pháp, văn bằng, chứng chỉ, giấy xác nhận kết quả học tập; giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận y tế, kết luận giám định y khoa; và các giấy tờ hành chính khác do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước phân cấp, ủy quyền thực hiện dịch vụ công cấp hoặc chứng nhận.
- Văn bản công chứng: Hợp đồng, giao dịch, bản dịch và bản sao đã được công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng qua các thời kỳ.
- Văn bản chứng thực: Bản sao từ bản chính; chứng thực chữ ký, chứng thực chữ ký người dịch, hợp đồng và giao dịch đã được chứng thực theo quy định của pháp luật chứng thực.
- Các giấy tờ công khác: Giấy tờ do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của Việt Nam lập, cấp hoặc chứng nhận trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định pháp luật.
2.2. Các loại giấy tờ KHÔNG THUỘC PHẠM VI cấp Apostille
Theo Công ước La Hay năm 1961 và Điều 11 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, không phải mọi giấy tờ đều thuộc phạm vi cấp chứng nhận Apostille. Các trường hợp chính bao gồm:
- Giấy tờ do viên chức ngoại giao hoặc lãnh sự của Việt Nam lập, cấp trong quá trình thực hiện chức năng ngoại giao, lãnh sự.
- Giấy tờ hành chính liên quan trực tiếp đến hoạt động thương mại hoặc hải quan (như Hóa đơn thương mại, Tờ khai hải quan…). Lưu ý ngoại lệ: Các giấy tờ thương mại/hải quan mà trước ngày Công ước Apostille có hiệu lực đối với Việt Nam đã thuộc diện được chứng nhận lãnh sự (như Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa C/O, Giấy chứng nhận lưu hành tự do CFS…) vẫn thuộc phạm vi được cấp Apostille theo Danh mục do Bộ Ngoại giao công bố..
- Giấy tờ chưa được công chứng, chứng thực và không do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền lập, cấp hoặc chứng nhận khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định pháp luật.
- Giấy tờ công do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền nước ngoài cấp: Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không cấp Apostille cho giấy tờ công của nước ngoài. Giấy tờ công do nước ngoài cấp phải xin cấp Apostille tại cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đã phát hành giấy tờ đó trước khi mang về Việt Nam sử dụng
2.3. Các loại giấy tờ KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN cấp Apostille
Dù thuộc loại giấy tờ công nhưng sẽ bị Cơ quan cấp Apostille từ chối cấp nếu vi phạm các điều kiện kỹ thuật và tình trạng pháp lý sau:
- Giấy tờ bị tẩy xóa, sửa chữa hoặc làm sai lệch nội dung trái phép.
- Giấy tờ có căn cứ xác định là giả mạo hoặc con dấu, chữ ký, chức danh không xác thực, không đúng thẩm quyền.
- Giấy tờ công đã bị tuyên bố vô hiệu, thu hồi, hủy bỏ hoặc bị xác định là cấp trái pháp luật.
- Giấy tờ công thuộc diện không được đưa ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Giấy tờ công điện tử không có chữ ký số hợp lệ hoặc không đáp ứng định dạng kỹ thuật theo pháp luật về giao dịch điện tử.
3. Phạm vi áp dụng Công ước Apostille ở Việt Nam
3.1. Điều kiện sử dụng giấy tờ công nước ngoài có Apostille tại Việt Nam
Kể từ ngày 11/9/2026, căn cứ Nghị định 293/2026/NĐ-CP, giấy tờ công do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên Công ước Apostille cấp sẽ được miễn thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự và được tiếp nhận, sử dụng trực tiếp tại Việt Nam nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Điều kiện về quan hệ áp dụng: Quốc gia cấp giấy tờ phải là thành viên Công ước Apostille và có quan hệ áp dụng Công ước với Việt Nam (không bị tuyên bố phản đối theo Điều 12 của Công ước).
- Điều kiện về hình thức và nội dung của Apostille: Chứng nhận Apostille (dạng bản giấy hoặc điện tử) phải do cơ quan có thẩm quyền của nước phát hành cấp. Bắt buộc phải có tiêu đề bằng tiếng Pháp: “Apostille (Convention de La Haye du 5 octobre 1961)” và thể hiện đầy đủ các nội dung theo Mẫu chuẩn của Công ước.
- Giá trị của e-Apostille và cơ chế tra cứu: Chứng nhận Apostille điện tử (e-Apostille) có giá trị pháp lý tương đương Apostille bản giấy. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận tại Việt Nam có thể chủ động đối soát tính xác thực bằng cách tra cứu trực tuyến qua Sổ đăng ký điện tử (e-Register) hoặc quét mã QR tích hợp trên chứng nhận.
- Điều kiện không thuộc các trường hợp từ chối: Giấy tờ không thuộc các diện loại trừ (như giấy tờ ngoại giao/lãnh sự, giấy tờ hành chính liên quan trực tiếp đến thương mại/hải quan thông thường); không có dấu hiệu tẩy xóa, giả mạo; không vi phạm trật tự công cộng hay đạo đức xã hội của Việt Nam; và chứng nhận Apostille chưa bị cơ quan nước ngoài hủy bỏ hoặc thu hồi.
- Yêu cầu về dịch thuật: Giấy tờ công bằng tiếng nước ngoài khi sử dụng tại Việt Nam bắt buộc phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Lưu ý: Căn cứ khoản 3 Điều 25 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, các cơ quan, tổ chức tại Việt Nam không được phép yêu cầu làm thêm thủ tục chứng nhận lãnh sự hay hợp pháp hóa lãnh sự đối với các giấy tờ công đã có chứng nhận Apostille hợp lệ. Trường hợp có nghi ngờ hợp lý về tính xác thực mà không tra cứu được qua e-Register, cơ quan tiếp nhận sẽ gửi văn bản đề nghị Bộ Ngoại giao hỗ trợ xác minh.
3.2. Các quốc gia có quan hệ áp dụng Công ước Apostille với Việt Nam
Tính đến ngày 11/9/2026, theo thông tin được công bố, Việt Nam có quan hệ áp dụng Công ước Apostille với 125 quốc gia và vùng lãnh thổ thành viên.
Tuy nhiên, khi rà soát hồ sơ, doanh nghiệp và cá nhân bắt buộc phải lưu ý 03 nhóm trường hợp ngoại lệ đặc biệt sau:
-
Trường hợp quốc gia chính thức tuyên bố phản đối
Căn cứ Điều 12 Công ước La Hay và khoản 4 Điều 5 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, mặc dù là thành viên Công ước, 3 quốc gia Đức, Áo và Cộng hòa Séc đã chính thức tuyên bố phản đối việc gia nhập của Việt Nam. Do đó, Công ước Apostille không có hiệu lực trong quan hệ giữa Việt Nam và 03 quốc gia này. Giấy tờ công lưu thông giữa hai bên bắt buộc vẫn phải thực hiện thủ tục chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo Nghị định 111/2011/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 196/2025/NĐ-CP) quy định pháp luật về chứng nhận, hợp pháp hóa lãnh sự.
-
Trường hợp quốc gia đã gia nhập nhưng chưa đến mốc thời gian có hiệu lực
Thái Lan đã chính thức gia nhập Công ước Apostille vào ngày 30/6/2026 nhưng Công ước chỉ có hiệu lực với quốc gia này từ ngày 28/02/2027. Do đó, đến trước ngày 28/02/2027, giấy tờ công lưu thông giữa Việt Nam và Thái Lan vẫn phải thực hiện thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định hiện hành.
-
Trường hợp vùng lãnh thổ phụ thuộc tuyên bố bảo lưu riêng
Mặc dù Đan Mạch là thành viên của Công ước, nhưng ngày 30/10/2006 và ngày 14/10/2021, Đan Mạch từng tuyên bố Công ước không áp dụng đối với vùng lãnh thổ tự trị là Greenland. Do đó, giấy tờ công do cơ quan có thẩm quyền tại Greenland cấp hoặc mang sang sử dụng tại Greenland không thuộc phạm vi áp dụng cơ chế Apostille.
4. Trình tự, thủ tục nộp hồ sơ xin cấp chứng nhận Apostille
4.1. Chuẩn bị hồ sơ và xác thực định danh
Người đề nghị đăng nhập vào Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Ngoại giao bằng tài khoản định danh điện tử, sau đó hoàn thiện hồ sơ điện tử theo hướng dẫn và chuẩn bị đầy đủ thành phần hồ sơ theo quy định. Cụ thể, thành phần hồ sơ 01 bộ gồm:
a) Trường hợp nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính:
- Tờ khai đề nghị cấp chứng nhận Apostille (Mẫu APO/TK ban hành kèm Thông tư 12/2026/TT-BNG), kèm theo bản quét (bản scan) các giấy tờ, tài liệu đề nghị cấp Apostille đăng tải trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Ngoại giao.
- Bản chính giấy tờ công, tài liệu đề nghị cấp Apostille (hoặc bản sao/bản dịch công chứng, chứng thực hợp lệ). Giấy tờ phải giữ nguyên vẹn, không bị tháo rời, tẩy xóa hay làm thay đổi nội dung.
- Phong bì có dán tem và ghi rõ địa chỉ người nhận (trong trường hợp hồ sơ gửi qua đường bưu điện và yêu cầu trả kết quả qua đường bưu điện
b) Trường hợp nộp trực tuyến toàn trình:
- Tờ khai điện tử trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Ngoại giao theo biểu mẫu điện tử tương tác (Mẫu APO/TKĐT).
- Bản điện tử của giấy tờ công đề nghị cấp Apostille có chữ ký số hợp lệ của cơ quan, người có thẩm quyền.
Xác thực định danh:
- Người nộp hồ sơ được xác thực danh tính thông qua Tài khoản định danh điện tử (VNeID) trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
- Đối với hình thức nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính, nếu không khai thác được dữ liệu điện tử, cơ quan tiếp nhận sẽ đối chiếu qua giấy tờ tùy thân (CCCD/Hộ chiếu) hoặc giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của tổ chức.
4.2. Lựa chọn phương thức nộp hồ sơ
a) Các phương thức nộp hồ sơ
Căn cứ Điều 12 và Điều 16 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, người đề nghị có thể lựa chọn một trong ba phương thức sau:
- Nộp trực tiếp: Nộp hồ sơ bản giấy tại một trong hai địa điểm tiếp nhận.
– Tại Hà Nội: Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của Bộ Ngoại giao (địa chỉ 40 Trần Phú, phường Ba Đình, Hà Nội).
– Tại TP.HCM: Sở Ngoại vụ TP. Hồ Chí Minh của Bộ Ngoại giao (địa chỉ số 6 Alexandre De Rhodes, phường Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh). - Qua dịch vụ bưu chính: Gửi hồ sơ bản giấy tại bất kỳ bưu điện nào thuộc hệ thống VN-POST (hotline 024 3825 5948) đến Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ TP.HCM.
- Trực tuyến: Nộp hồ sơ toàn trình trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Ngoại giao.
b) Các phương thức nhận kết quả
Tùy theo cách thức nộp hồ sơ và kết quả giải quyết, tổ chức, cá nhân nhận kết quả theo các phương thức sau:
- Nhận trực tiếp: Nhận kết quả tại trụ sở cơ quan theo Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả.
- Qua dịch vụ bưu chính: Kết quả được cơ quan gửi trả qua đường bưu điện.
- Trực tuyến: Tổ chức, cá nhân tự lựa chọn hình thức nhận kết quả theo quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
Lưu ý trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện giải quyết, Bộ phận trả kết quả giải thích rõ lý do từ chối giải quyết hồ sơ cho tổ chức, cá nhân theo nội dung trong Phiếu từ chối tiếp nhận giải quyết hồ sơ.
4.3. Thời hạn giải quyết
Căn cứ Điều 17 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, thời hạn cấp Apostille được tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và phân định cụ thể theo số lượng giấy tờ:
a) Đối với hồ sơ bản giấy (nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện)
- Từ 01 – 04 giấy tờ công: 01 ngày làm việc
- Từ 05 – 09 giấy tờ công: 02 ngày làm việc
- Từ 10 giấy tờ công trở lên: 04 ngày làm việc
b) Đối với hồ sơ bằng bản điện tử (nộp trực tuyến)
- Từ 01 – 04 giấy tờ công: Trong ngày làm việc, nếu hồ sơ được tiếp nhận trước thời điểm theo quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; nếu tiếp nhận sau thời điểm đó thì tính vào ngày làm việc tiếp theo
- Từ 05 đến 09 giấy tờ công: 01 ngày làm việc
- Từ 10 trở lên: 03 ngày làm việc
Bên cạnh đó, thời gian người nộp bổ sung hồ sơ (tối đa 07 ngày làm việc) không tính vào thời hạn giải quyết. Trường hợp giấy tờ cần xác minh tính xác thực, việc giải quyết đối với giấy tờ đó được tạm dừng. Cơ quan được đề nghị xác minh trả lời trong 05 ngày làm việc (trường hợp phức tạp không quá 10 ngày làm việc). Nếu quá 30 ngày kể từ ngày gửi đề nghị xác minh mà không có trả lời thì hồ sơ được trả lại.
4.4. Phí cấp chứng nhận Apostille
Lệ phí cấp đối với giấy tờ công Việt Nam: 30.000 đồng/bản (theo hướng dẫn của Bộ Ngoại giao đăng tải trên Cổng dịch vụ công, Điều 9 Nghị định 293/2026/NĐ-CP).
Phương thức thanh toán: bằng hình thức chuyển khoản thông qua mã QR được đính kèm trên Phiếu tiếp nhận và hẹn trả kết quả ngay tại thời điểm nộp hồ sơ.
Ngoài ra, đối với trong trường hợp người nộp hồ sơ chọn hình thức nộp hồ sơ hoặc nhận kết quả qua đường bưu điện, khoản cước phí bưu chính sẽ do người nộp hồ sơ tự chi trả bổ sung.
5. Một số lưu ý khi thực hiện thủ tục Apostille
Để tối ưu hóa thời gian, chi phí và tránh rủi ro hồ sơ bị từ chối khi thực hiện thủ tục chứng nhận hoặc sử dụng giấy tờ theo cơ chế Apostille, LawPlus khuyến nghị quý doanh nghiệp và cá nhân cần lưu ý 05 điểm sau:
-
Xác định chính xác cơ quan có thẩm quyền cấp:
Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (Cục Lãnh sự, Sở Ngoại vụ TP.HCM) chỉ thực hiện cấp Apostille cho giấy tờ công của Việt Nam. Đối với giấy tờ công do nước ngoài cấp muốn đưa về sử dụng tại Việt Nam, người đề nghị bắt buộc phải xin cấp tem Apostille tại cơ quan có thẩm quyền của chính quốc gia đã phát hành giấy tờ đó trước khi nhập cảnh/chuyển vùng về Việt Nam.
-
Rà soát danh sách quốc gia có quan hệ áp dụng:
Bắt buộc kiểm tra xem quốc gia sử dụng giấy tờ có quan hệ áp dụng Công ước Apostille với Việt Nam hay không. Lưu ý đặc biệt: Giấy tờ lưu thông giữa Việt Nam và 03 quốc gia Đức, Áo, Cộng hòa Séc không được áp dụng cơ chế Apostille mà bắt buộc phải thực hiện thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự truyền thống.
-
Lưu ý về thời hạn hiệu lực của Apostille:
Bản thân tem Apostille không có thời hạn hết hiệu lực. Tuy nhiên, giá trị sử dụng của hồ sơ sẽ gắn liền với thời hạn hiệu lực của giấy tờ công gốc (như Phiếu lý lịch tư pháp, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, Giấy khám sức khỏe…) hoặc quy định riêng về thời hạn tiếp nhận hồ sơ (thường là 03 đến 06 tháng) của cơ quan có thẩm quyền tại nơi nộp.
-
Thực hiện dịch thuật công chứng đúng quy chuẩn:
Căn cứ Điều 27 Nghị định 293/2026/NĐ-CP, giấy tờ công nước ngoài đã có chứng nhận Apostille khi sử dụng tại Việt Nam bắt buộc phải được dịch ra tiếng Việt và bản dịch phải được công chứng hoặc chứng thực chữ ký người dịch theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam.
-
Chủ động đối soát trực tuyến đối với e-Apostille:
Đối với các chứng nhận Apostille dạng điện tử, người nộp hồ sơ nên chủ động quét mã QR hoặc truy cập Cổng thông tin Sổ đăng ký điện tử (e-Register) của quốc gia cấp để kiểm tra tính xác thực và trạng thái hiệu lực của chứng nhận trước khi nộp cho cơ quan thẩm quyền.
Sự kiện Công ước Apostille chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam cùng sự ra đời của Nghị định 293/2026/NĐ-CP và Thông tư 12/2026/TT-BNG là bước tiến quan trọng giúp hội nhập quốc tế và giảm thiểu tối đa rào cản hành chính cho các giao dịch xuyên biên giới. Việc nắm vững các quy định về đối tượng, phạm vi áp dụng và trình tự thủ tục sẽ giúp doanh nghiệp và cá nhân chủ động bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Trường hợp Quý khách hàng gặp khó khăn trong việc thực hiện thủ tục cấp chứng nhận Apostille, đội ngũ Chuyên gia Pháp lý của LawPlus luôn sẵn sàng đồng hành và cung cấp giải pháp tư vấn toàn diện, tối ưu nhất cho từng trường hợp cụ thể.


