"

TỪ 01/01/2026, MIỄN THUẾ TNCN CHO HỘ KINH DOANH CÓ THU NHẬP DƯỚI 500 TRIỆU ĐỒNG

Thuế 2025

Từ năm 2026, pháp luật thuế có nhiều điều chỉnh quan trọng liên quan đến hộ kinh doanh, đặc biệt là việc xác lập ngưỡng doanh thu 500 triệu đồng/năm làm căn cứ xác định nghĩa vụ thuế. Theo các quy định mới, hộ kinh doanh có doanh thu dưới ngưỡng này không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN, nhưng vẫn phải thực hiện một số nghĩa vụ quản lý nhất định theo Luật Quản lý thuế. Bài viết dưới đây tổng hợp và phân tích các quy định pháp luật hiện hành, giúp hộ kinh doanh hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và các lưu ý pháp lý cần thiết khi áp dụng từ năm 2026.

1. Hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế GTGT, thuế TNCN

Trong bối cảnh cải cách chính sách thuế theo hướng hỗ trợ khu vực kinh tế nhỏ lẻ, giảm gánh nặng tuân thủ cho hộ kinh doanh, pháp luật thuế giai đoạn 2024–2026 đã có những điều chỉnh quan trọng liên quan đến ngưỡng doanh thu chịu thuế. Một trong những điểm thay đổi có tác động trực tiếp và rộng rãi nhất là việc xác lập ngưỡng doanh thu 500 triệu đồng/năm làm căn cứ xác định nghĩa vụ thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

1.1. Không phải nộp thuế giá trị gia tăng

Căn cứ khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 số 48/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2025 số 149/2025/QH15, pháp luật quy định rõ các trường hợp không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, trong đó bao gồm:

  • Hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống;
  • Tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT khi bán ra;
  • Hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra;
  • Các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

Quy định này thể hiện rõ quan điểm lập pháp: doanh thu thấp thì không đặt ra nghĩa vụ thuế GTGT, nhằm giảm chi phí tuân thủ và tránh tình trạng “thu không đủ bù chi” trong công tác quản lý thuế.

>> DỰ THẢO LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 2025: NHỮNG THAY ĐỔI VÀ TÁC ĐỘNG

1.2. Không phải nộp thuế thu nhập cá nhân

Song song với thuế GTGT, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 số 109/2025/QH15 cũng có sự điều chỉnh tương ứng.

Theo khoản 1 Điều 7 Luật này, pháp luật quy định:

  • Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống thì không phải nộp thuế thu nhập cá nhân;
  • Chính phủ có trách nhiệm trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế TNCN cho phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.

Như vậy, có thể khẳng định một cách thống nhất rằng: từ năm 2026, hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống đồng thời không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN. Tuy nhiên, việc không phát sinh nghĩa vụ nộp thuế không đồng nghĩa với việc được miễn hoàn toàn nghĩa vụ quản lý, kê khai và chứng minh doanh thu, như sẽ phân tích ở các mục tiếp theo.

2. Từ năm 2026, hộ kinh doanh doanh thu dưới 500 triệu đồng phải thông báo doanh thu thực tế phát sinh

Bên cạnh nghĩa vụ ghi sổ, Luật Quản lý thuế mới đã đặt ra yêu cầu chủ động thông báo doanh thu đối với hộ kinh doanh, kể cả trong trường hợp không thuộc đối tượng chịu thuế.

Theo khoản 1 Điều 13 Luật Quản lý thuế 2025 số 108/2025/QH15, pháp luật quy định rõ cơ chế khai thuế và thông báo doanh thu như sau:

2.1. Trường hợp không thuộc đối tượng chịu thuế, nộp thuế

  • Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định có mức doanh thu hằng năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN;
  • Có trách nhiệm thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm với cơ quan thuế theo hình thức và thời hạn do cơ quan thuế hướng dẫn.

2.2. Trường hợp thuộc đối tượng chịu thuế

  • Hộ kinh doanh tự xác định doanh thu chịu thuế;
  • Tự tính và nộp thuế GTGT, thuế TNCN theo quy định.

2.3. Trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử

  • Nếu hộ kinh doanh sử dụng hóa đơn điện tử hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế, thì:
  • Hệ thống thông tin quản lý thuế tự động tạo lập tờ khai thuế;
  • Việc khai và tính thuế được thực hiện trên cơ sở dữ liệu hóa đơn điện tử và các nguồn dữ liệu khác.

Như vậy, kể từ năm 2026, hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu đồng vẫn có nghĩa vụ thông báo doanh thu thực tế phát sinh, dù không phải nộp thuế.

3. Hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm không bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử

Về nguyên tắc chung, pháp luật hóa đơn quy định việc lập hóa đơn là nghĩa vụ phát sinh khi có hoạt động bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, nghĩa vụ lập hóa đơn không đồng nghĩa với nghĩa vụ bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử trong mọi trường hợp.

3.1. Nguyên tắc lập hóa đơn

Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP, khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn giao cho người mua, bao gồm cả các trường hợp khuyến mại, biếu tặng, tiêu dùng nội bộ…

Quy định này áp dụng chung cho mọi chủ thể, bao gồm cả hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu đồng.

3.2. Trường hợp bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền

Theo khoản 1 Điều 11 Nghị định 123/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP, chỉ những hộ kinh doanh:

  • Có doanh thu từ 1 tỷ đồng/năm trở lên;
  • Thuộc nhóm ngành nghề bán lẻ, ăn uống, dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng;

mới bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối với cơ quan thuế.

Do đó, có thể khẳng định: hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm không thuộc diện bắt buộc phải sử dụng hóa đơn điện tử.

>>> CHÍNH SÁCH THUẾ MỚI NĂM 2025 DÀNH CHO HỘ KINH DOANH

4. Hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu đồng không bắt buộc phải có hóa đơn đầu vào

Pháp luật hiện hành không đặt ra nghĩa vụ bắt buộc phải có hóa đơn đầu vào đối với hộ kinh doanh, đặc biệt là hộ kinh doanh nhỏ, không thuộc diện kê khai thuế theo phương pháp khấu trừ.

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 123/2020/NĐ-CP, hóa đơn là chứng từ do người bán lập để ghi nhận giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Pháp luật không có quy định xử phạt riêng đối với hành vi không có hóa đơn đầu vào.

Tuy nhiên, trên thực tiễn, việc không có hóa đơn đầu vào tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng. Trường hợp không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của hàng hóa, hộ kinh doanh có thể bị xử phạt theo Điều 17 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP và Nghị định 96/2023/NĐ-CP, với mức phạt lên đến 100 triệu đồng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.

Bài viết liên quan